Ôn thi tuyển sinh ngữ văn lớp 10: kĩ năng đọc hiểu văn bản thông tin

Thứ năm, 28/05/2026 20:26 (GMT+7)

ThS Trần Lê Duy (Giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường đại học Sư phạm TP.HCM) chia sẻ 5 vấn đề trọng tâm cần lưu ý khi đọc hiểu văn bản thông tin giúp khi ôn thi tuyển sinh lớp 10.

Ôn thi tuyển sinh ngữ văn lớp 10: kĩ năng đọc hiểu văn bản thông tin- Ảnh 1.

Infographic tổng hợp 5 vấn đề trọng tâm khi đọc hiểu văn bản thông tin trong ôn thi tuyển sinh lớp 10 - Ảnh: THS TRẦN LÊ DUY TẠO BẰNG AI

ThS Trần Lê Duy - Giảng viên khoa Ngữ văn, Trường đại học Sư phạm TP.HCM - chia sẻ 5 vấn đề trọng tâm giúp học sinh làm phần đọc hiểu văn bản thông tin chắc ý và có căn cứ hơn trong kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm 2026.

*Thưa thầy, khi đọc một văn bản thông tin, em hay bị rối vì thấy văn bản có rất nhiều ý. Ý nào cũng có vẻ quan trọng. Vậy làm sao để em biết đâu là thông tin cơ bản, đâu chỉ là thông tin phụ hoặc chi tiết minh họa ạ?

- ThS Trần Lê Duy: Đây là khó khăn rất thường gặp khi làm bài đọc hiểu văn bản thông tin. Em cần nhớ: thông tin cơ bản là thông tin chính mà văn bản muốn truyền tải, còn chi tiết hoặc dữ liệu là những thông tin nhỏ hơn, dùng để làm rõ cho thông tin cơ bản.

Muốn tìm thông tin cơ bản, em không nên đọc từng câu một cách rời rạc. Trước hết, hãy nhìn vào nhan đề, phần sa-pô nếu có, hệ thống đề mục, các câu mở đầu đoạn hoặc những từ ngữ được in đậm, in nghiêng. Những yếu tố này thường cho em biết văn bản đang triển khai các nội dung lớn nào.

Ví dụ, với văn bản Tắm rừng - phương pháp phục hồi tâm trí từ thiên nhiên, các thông tin cơ bản có thể xác định dựa vào hệ thống đề mục: thứ nhất là nguồn gốc và khái niệm của tắm rừng; thứ hai là lợi ích khoa học và trải nghiệm giác quan mà tắm rừng mang lại; thứ ba là gợi mở việc ứng dụng tắm rừng trong điều kiện thực tế của Việt Nam.

Những ý như "tắm rừng giúp giảm hormone căng thẳng, hạ huyết áp, cải thiện giấc ngủ…" là thông tin chi tiết, vì nó làm rõ cho thông tin cơ bản về lợi ích của tắm rừng.

Nói ngắn gọn, khi muốn tìm thông tin cơ bản, em hãy tự hỏi: văn bản có mấy phần lớn, mỗi phần đang nói về vấn đề chính nào? Còn khi muốn nhận ra chi tiết, em hãy hỏi: chi tiết này đang dùng để làm rõ cho ý chính nào? Nếu trả lời được hai câu hỏi ấy, em sẽ không còn bị chìm trong quá nhiều thông tin.

*Thưa thầy, đề hay hỏi "chỉ ra mối liên hệ giữa nhan đề và thông tin cơ bản của văn bản". Em hiểu nhan đề là tên văn bản, nhưng không biết phải phân tích mối liên hệ như thế nào. Em có nên chỉ giải thích nghĩa của nhan đề không ạ?

- ThS Trần Lê Duy: Không nên chỉ dừng lại ở việc giải thích nghĩa của nhan đề. Với văn bản thông tin, nhan đề thường khái quát nội dung chính, còn các thông tin cơ bản trong văn bản sẽ cụ thể hóa nội dung nhan đề ấy.

Vì vậy, khi gặp dạng câu hỏi này, em có thể làm theo hai bước. Bước một, chỉ ra nhan đề nhấn mạnh điều gì. Bước hai, chỉ ra các thông tin cơ bản trong văn bản đã làm rõ nhan đề ấy như thế nào.

Ví dụ, nhan đề Tắm rừng - phương pháp phục hồi tâm trí từ thiên nhiên nhấn mạnh hai ý: đối tượng chính của văn bản là tắm rừng, và vai trò của hoạt động này là phục hồi tâm trí nhờ thiên nhiên.

Nội dung nhan đề ấy được làm rõ qua các thông tin cơ bản của văn bản: phần đầu giải thích tắm rừng là gì và có nguồn gốc từ đâu; phần tiếp theo trình bày các lợi ích khoa học và trải nghiệm giác quan mà tắm rừng mang lại; phần cuối gợi mở khả năng ứng dụng tắm rừng tại Việt Nam.

Như vậy, một câu trả lời tốt không chỉ nói "nhan đề phù hợp với nội dung văn bản", mà cần nói rõ phù hợp ở điểm nào.

Em có thể dùng công thức: nhan đề nêu vấn đề chính → các thông tin cơ bản triển khai, làm rõ, cụ thể hóa vấn đề ấy.

Thưa thầy, khi đề yêu cầu phân tích vai trò của một thông tin chi tiết hoặc dữ liệu, em thường chỉ biết chép lại thông tin đó rồi nói "làm cho văn bản cụ thể hơn". Viết như vậy có đủ chưa ạ? Làm sao để phân tích sâu hơn?

Viết "làm cho văn bản cụ thể hơn" là đúng hướng, nhưng còn chung chung. Khi phân tích vai trò của một thông tin chi tiết, em cần chỉ rõ chi tiết ấy nói về điều gì, làm sáng tỏ thông tin cơ bản nào, và góp phần thực hiện mục đích của văn bản ra sao.

Em có thể làm theo ba bước. Bước một, tóm tắt nội dung của chi tiết. Bước hai, xác định chi tiết ấy bổ trợ cho thông tin cơ bản nào. Bước ba, nêu tác dụng của chi tiết đối với người đọc và mục đích văn bản.

Ví dụ, trong văn bản Tắm rừng - phương pháp phục hồi tâm trí từ thiên nhiên, thông tin: "Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng tắm rừng giúp giảm hormone căng thẳng (cortisol), hạ huyết áp, cải thiện giấc ngủ và tăng cường hệ miễn dịch" là một thông tin chi tiết quan trọng.

Chi tiết này nói về các lợi ích cụ thể của tắm rừng đối với sức khỏe. Nó làm sáng tỏ thông tin cơ bản ở mục II: lợi ích khoa học của tắm rừng.

Nhờ có bằng chứng khoa học cụ thể, văn bản trở nên thuyết phục hơn, giúp người đọc tin rằng tắm rừng không chỉ là một cảm giác thư giãn mơ hồ, mà là một phương pháp có cơ sở khoa học trong việc giảm căng thẳng và phục hồi sức khỏe.

Vì vậy, khi gặp dạng câu hỏi này, em đừng chỉ chép lại chi tiết. Hãy trả lời theo hướng: chi tiết nói gì → làm rõ thông tin cơ bản nào → giúp văn bản cụ thể, thuyết phục và đạt mục đích ra sao.

Ôn thi tuyển sinh ngữ văn lớp 10: kĩ năng đọc hiểu văn bản thông tin- Ảnh 2.

ThS Trần Lê Duy - Giảng viên khoa Ngữ văn, Trường đại học Sư phạm TP.HCM - Ảnh: NVCC

*Thưa thầy, em thấy văn bản thông tin có nhiều cách sắp xếp ý: có đoạn kể theo thời gian, có đoạn chia thành từng loại, có đoạn lại so sánh các đối tượng với nhau. Khi đề hỏi "cách trình bày thông tin", em phải nhận diện và nêu tác dụng như thế nào ạ?

- ThS Trần Lê Duy: Khi đề hỏi về cách trình bày thông tin, em cần quan sát xem tác giả đã sắp xếp thông tin theo trật tự nào.

Một số cách thường gặp là: trình bày theo thời gian, theo không gian, theo nguyên nhân - kết quả, theo mức độ quan trọng, theo đối tượng phân loại hoặc theo so sánh - đối chiếu.

Muốn nhận diện, em hãy chú ý các dấu hiệu. Nếu văn bản có các mốc như "năm…", "sau đó…", "đến khi…", đó có thể là trình tự thời gian. Nếu có các từ như "ở trung tâm", "xung quanh", "phía trước", "bên cạnh", đó có thể là trình tự không gian.

Nếu văn bản nói "do… nên…", "vì… dẫn đến…", đó là nhân quả. Nếu văn bản đặt hai hay nhiều đối tượng cạnh nhau để thấy điểm giống, khác, ưu điểm, hạn chế, đó là so sánh - đối chiếu.

Ví dụ, trong văn bản Tắm rừng - phương pháp phục hồi tâm trí từ thiên nhiên, đoạn so sánh tắm rừng với việc nghỉ ngơi bằng thiết bị điện tử và ngồi thiền trong nhà được trình bày theo cách so sánh - đối chiếu.

Văn bản đặt các hình thức nghỉ ngơi cạnh nhau để người đọc thấy rõ ưu điểm và hạn chế của từng cách. Nhờ đó, tác dụng nổi bật của tắm rừng được làm rõ hơn: tắm rừng giúp con người trực tiếp kết nối với thiên nhiên, mang lại sự thư giãn sâu và toàn diện cho giác quan, cảm xúc.

Khi trả lời dạng câu hỏi này, em nên có đủ hai ý: chỉ ra biểu hiện của cách trình bày thông tin và nêu tác dụng của cách trình bày ấy. Không nên chỉ gọi tên kiểu trình bày mà không chứng minh bằng căn cứ trong văn bản.

*Thưa thầy, trong văn bản thông tin thường có hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ hoặc chú thích. Em hay nghĩ những phần đó chỉ để trang trí nên ít chú ý. Nhưng nếu đề hỏi tác dụng của hình ảnh hoặc bảng biểu thì em phải trả lời thế nào ạ?

- ThS Trần Lê Duy: Em không nên xem hình ảnh, bảng biểu hay sơ đồ trong văn bản thông tin chỉ là phần trang trí. Đó là phương tiện phi ngôn ngữ, có vai trò hỗ trợ kênh chữ, giúp người đọc hiểu thông tin nhanh hơn, trực quan hơn, thậm chí có thể cung cấp thêm thông tin mà phần chữ chưa nói rõ.

Khi phân tích phương tiện phi ngôn ngữ, em nên làm ba bước. Bước một, chỉ ra phương tiện đó là gì: hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ hay biểu đồ. Bước hai, nêu phương tiện ấy thể hiện nội dung gì. Bước ba, phân tích tác dụng: nó trực quan hóa thông tin nào, bổ sung thông tin gì, giúp văn bản sinh động và thuyết phục hơn ra sao.

Ví dụ, trong văn bản Tắm rừng - phương pháp phục hồi tâm trí từ thiên nhiên, hình ảnh một người đang thư giãn giữa rừng giúp người đọc hình dung trực quan hoạt động tắm rừng như một cách sống hòa điệu với thiên nhiên. Hình ảnh ấy làm rõ nội dung văn bản về vai trò phục hồi tinh thần của tắm rừng.

Còn bảng so sánh giữa tắm rừng, nghỉ ngơi bằng thiết bị và ngồi thiền trong nhà giúp người đọc dễ nhận ra ưu điểm, hạn chế của từng hình thức nghỉ ngơi. Đặc biệt, bảng biểu làm nổi bật ưu thế của tắm rừng ở khả năng kết nối thiên nhiên và phục hồi sâu sắc.

Tác dụng chung của các phương tiện phi ngôn ngữ là làm cho văn bản trực quan, sinh động, dễ hiểu hơn; đồng thời hỗ trợ mục đích cung cấp thông tin và thuyết phục người đọc về giá trị của phương pháp tắm rừng.

Chúc các em đọc văn bản thông tin bình tĩnh hơn, biết tìm ý chính chính xác và trả lời có căn cứ hơn trong kì thi tuyển sinh lớp 10!

Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Ngày hội Tự tin vào lớp 10 do ấn phẩm Mực Tím, báo Tuổi Trẻ phối hợp Thành Đoàn TP.HCM từ năm 2024. 

    Đến với ngày hội, học sinh và phụ huynh được giải đáp trực tiếp từ chuyên gia về thông tin mới nhất liên quan đến kỳ thi tuyển sinh lớp 10; Khám phá bản thân và xu hướng nghề nghiệp; Trải nghiệm môi trường học tập, gỡ rối tâm lý mùa thi. 

    Xem thêm

    Đáp án: